QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO

Thứ ba - 18/05/2021 15:52
Kỷ niệm 131 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2021) - vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc ta, thư viện Thăng Long của Website Bộ môn Tôn giáo học xin trân trọng giới thiệu các bài viết tư liệu nghiên cứu quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo. Đây là những bài nghiên cứu có giá trị được lưu trữ trong kho tư liệu của Bộ môn. Thư viện Thăng Long đăng tải toàn văn bài viết: "Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về tôn giáo" của PGS.TS Lê Bá Trình, nguyên Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam. Nguồn dẫn: Bài viết đã được in trong cuốn sách: "Đào tạo Tôn giáo học ở Việt Nam quá trình hình thành và phát triển" của Bộ môn Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, do PGS.TS Trần Thị Kim Oanh chủ biên, Nxb Tôn giáo, 2017.

        


       
       Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969), vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời của Người là một bài ca trong sáng, cao đẹp về đạo đức của người cộng sản vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc kiệt xuất và là một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc không ngừng đấu tranh và hiến dâng cuộc đời mình cho Tổ quốc, non sông Việt Nam. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, với tinh thần yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, sự nhạy bén về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ và quyết tâm ra đi tìm con đường để cứu dân, cứu nước. Điều này được thể hiện trong hệ thống quan điểm của Người về đoàn kết dân tộc, về độc lập dân tộc, về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; vận dụng và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, trong đó có những tư tưởng đặc biệt về tôn giáo đã thể hiện nhãn quan chính trị sắc bén của Người.
       Trước tiên, khi đề cập đến tư tưởng về tôn giáo, Bác khẳng định việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân là cần thiết và quan trọng hàng đầu.
       Theo Hồ Chí Minh, đức tin tôn giáo là niềm tin vào sức mạnh của thế giới siêu nhiên, là điểm tựa tinh thần của tín đồ các tôn giáo. Đức tin đó không thể thay đổi bằng hành động cưỡng bức mà chỉ có thể thay đổi thông qua việc đấu tranh cải tạo xã hội hiện thực, xây dựng một xã hội mới mà ở đó có cuộc sống đầy đủ về vật chất và tinh thần, con người thực sự làm chủ tự nhiên và xã hội; đồng thời không được xúc phạm đến niềm tin tôn giáo, nếu bị xúc phạm sẽ đưa lại nhiều hậu quả tiêu cực khó lường. Hơn nữa quyền tự do tôn giáo là một trong những nội dung về quyền tự do tư tưởng của con người, thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân loại. Do đó, Hồ Chí Minh luôn nêu rõ quan điểm tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo tôn giáo nào của nhân dân. Người nói: "Tín đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Giatô tin ở Đức Chúa Trời cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những bậc chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với dân ta, ta đừng làm gì trái với ý dân..." [Báo Cứu Quốc, ngày 8-1-1946]
       Trong bài thơ Mười chính sách của Việt Minh, Hồ Chí Minh đã viết: 
                                                  "Hội hè, tín ngưỡng, báo chương,
                                                   Họp hành, đi lại, có quyền tự do" [Hồ Chí Minh, 1]
       Sự tôn trọng ấy không chỉ thể hiện trên văn bản, lời nói mà cả hành động thực tiễn của Người:
      Ngày 03-9-1945, sau khi cách mạng tháng Tám thành công, thay mặt Chính phủ lâm thời Người đề nghị: "Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết" [Hồ Chí Minh, 2]; đồng thời một trong sáu việc cấp bách đề ra cho Chính phủ Việt Nam là tiếp các đoàn đại biểu của Công giáo và Phật giáo cũng như các giáo hội khác.
      Trong Sắc lệnh 234/SL, ngày 14-6-1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quy định rõ: Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào.
       Trong buổi lễ ra mắt Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, Hồ Chí Minh cũng khẳng định: "Chúng tôi xin nói thêm hai điểm, nói rõ để tránh mọi sự có thể hiểu lầm.
      Một là, vấn đề tôn giáo, thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người..." [Hồ Chí Minh, 3]
      Theo Hồ Chí Minh, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân không chỉ thực hiện đối với cán bộ, đảng viên, những người làm công tác tôn giáo mà cả toàn xã hội, ngay cả những tôn giáo khác nhau. Bởi vì, do tính chất cục bộ, mỗi tôn giáo đều mong muốn đề cao tôn giáo mình, hạ thấp tôn giáo khác, thậm chí phủ nhận tôn giáo khác, nếu không thực hiện tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo sẽ dẫn đến có sự xung đột tôn giáo xảy ra. Điều này đã được chứng minh qua lịch sử hình thành và phát triển của các tôn giáo trên thế giới.
       Tôn trọng những người sáng lập ra các tôn giáo là tôn trọng đức tin của người theo tôn giáo: Theo Hồ Chí Minh, biểu tượng cao nhất của niềm tin tôn giáo là niềm tin, sự tôn trọng đối với các đấng giáo chủ, người sáng lập ra các tôn giáo, vì vậy, Người luôn luôn ca ngợi đạo đức, tôn trọng những ý tưởng nhân đạo của các vị sáng lập các tôn giáo. Với Chúa Giêsu, Người nói: "Gần hai mươi thế kỉ trước, một vị thánh nhân đã ra đời. Cả đời Người chỉ lo cứu thế độ dân, hi sinh cho tự do bình đẳng" [Hồ Chí Minh, 4]; hoặc: "Đức Giêsu hi sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc" [Hồ Chí Minh, 5], "Suốt đời Ngài chỉ hi sinh phấn đấu cho tự do, cho dân chủ" [Hồ Chí Minh, 6].
       Với đức Phật, Người nói: "Đức Phật là đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn. Muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải hi sinh tranh đấu diệt lũ ác ma". "Phật Thích Ca là một người quý tộc. Người đã bỏ hết công danh phú quý để cứu vớt chúng sinh" [Hồ Chí Minh, 7]
       Trong công việc hàng ngày của cách mạng, Hồ Chí Minh phê phán việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin trước đồng bào có đạo một cách thô thiển và xúc phạm đến giáo sĩ: "Đối với đồng bào Công giáo có đội đã đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra giải thích. Nhiều cán bộ hễ cứ nói đến cha cố không phân biệt tốt xấu, cứ gọi bằng thằng làm cho nông dân Công giáo khó chịu". [Hồ Chí Minh, 8]. Ngày 10-5-1958, khi trả lời câu hỏi của các cử tri Hà Nội: "Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?". Hồ Chí Minh trả lời rõ: "Không. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do. Ở Việt Nam cũng vậy". Người còn nói rõ thêm người cộng sản tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội không những không tiêu diệt tôn giáo mà còn bảo hộ tôn giáo. Đảng Cộng sản chỉ chủ trương tiêu diệt tội ác người bóc lột người.
        Quan điểm tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ ở chỗ Người kiên quyết đấu tranh với những kẻ lợi dụng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích chung của quốc gia, dân tộc nhưng bao giờ cũng giữ thái độ đúng mực với đức tin chân chính của tôn giáo. Linh mục Trần Tam Tỉnh nhận xét rất đúng sau khi phân tích sự kiện liên quan đến Giám mục Lê Hữu Từ: "Các lời lẽ của Cụ phê phán Giáo hội không bao giờ chạm tới khía cạnh đức tin, mà chỉ nằm ở phạm vi các vấn đề cơ chế và chính trị" [Trần Tam Tỉnh, 9]. 
        Thứ hai, Hồ Chí Minh cũng luôn đề cao những điểm tương đồng giữa tôn giáo với chủ nghĩa xã hội.
       Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo vào hoàn cảnh cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh không bao giờ có thái độ đấu tranh trực diện với tôn giáo mà thường làm rõ những điểm tương đồng giữa các tôn giáo với chủ nghĩa xã hội, giữa mục tiêu giải phóng dân tộc, đem lại cơm no, áo ấm của cách mạng Việt Nam với khát vọng giải thoát con người ra khỏi nỗi khổ ở nơi trần thế của các tôn giáo. Sự tương đồng giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh thể hiện ở các điểm sau:
        Về khát vọng giải phóng con người ra khỏi áp bức, bất công, sự khổ ải ở chốn trần gian. Theo Hồ Chí Minh, tôn giáo là nơi gửi gắm nguyện vọng thiết tha của quần chúng lao động và các dân tộc bị áp bức mong chờ được giải thoát khỏi cảnh nghèo nàn, bất công. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người ra khỏi áp bức, bóc lột, xây dựng một cuộc sống hiện thực với đất nước thống nhất, dân tộc độc lập, nhân dân hạnh phúc. Như vậy, giữa khát vọng của tôn giáo và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là tương đồng. Cũng chính vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng, giữa đức Phật, đức Chúa và những người xã hội chủ nghĩa đều cùng phấn đấu cho việc xây dựng một xã hội ấm no, hạnh phúc, Người nói: Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện của nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất toàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy. [Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng, 10]
        Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh khẳng định:
       Mục đích Chính phủ ta theo đuổi là chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Song để đạt tới hạnh phúc đó cho mọi người, cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu đức Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình vào nỗi khổ đau của người đương thời, chắc ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi tìm đường cứu khổ loài người.[Hồ Chí Minh, 11]
      Tháng 3 năm 1955, khi nói chuyện với đại biểu đại hội Công giáo toàn quốc tại Hà Nội, Hồ Chí Minh tâm sự rất cởi mở và thẳng thắn:
      Các cụ, các cô, các chú biết tôi là người không có đạo, là người cộng sản theo chủ nghĩa Mác-Lênin, suốt đời hy sinh đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào. Nay nước ta đã được giải phóng khỏi ách thực dân, nhân dân ta được hòa bình, độc lập, tự do. Tôi và Đảng, Chính phủ lo cơm ăn, áo mặc, các cháu được học hành, người ốm có thuốc, vào bệnh viện để chữa bệnh, đời sống tinh thần, vật chất ngày càng ổn định và nâng cao, để xây dựng lại đất nước cho giàu đẹp, đồng thời đấu tranh vì hòa bình, thống nhất đất nước, cho Nam Bắc sum họp một nhà.
       Các cụ, các cô, các chú cùng với chúng tôi lo làm cái việc đó có gì mâu thuẫn hay sai trái với giáo lý của đạo, lời nói của Chúa Giêsu không? [Báo Người Công giáo Việt Nam, ngày 19-5-1985 ].
       Để kêu gọi, động viên đồng bào Công giáo chung sức, chung lòng cùng với nhân dân thực hiện công cuộc đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc, Người viết:
       Chúng ta kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do. Như thế là những việc Chính phủ và nhân dân ta làm, đều phù hợp với tinh thần Phúc âm. Cho nên tôi chúc đồng bào Công giáo làm tròn chính sách của Chính phủ cũng là làm trọn tinh thần của Chúa Cơ đốc. [Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng, 12]
        Đối với tăng ni, phật tử, trong thư gửi Hội phật tử Việt Nam nhân ngày lễ Phật rằm tháng Bảy (năm 1947), Người nêu rõ:
       Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh ta thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ. [Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng,13]
        Về giá trị đạo đức. Đạo đức tôn giáo và đạo đức cộng sản đều là những giá trị đạo đức mang tính nhân văn, nhân loại cao cả, đó là giáo dục con người lòng nhân ái, thương yêu, tôn trọng lẫn nhau; khoan dung, bác ái, bình đẳng trong các mối quan hệ của cuộc sống hàng ngày. Các giá trị đạo đức ấy được Hồ Chí Minh ca ngợi ở những người lãnh tụ vĩ đại của chủ nghĩa cộng sản và của các tôn giáo. Hồ Chí Minh đã viết: "Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa" [Hồ Chí Minh, 14]. Như vậy, Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh, đề cao điểm tương đồng giữa đạo đức tôn giáo và đạo đức cộng sản.
         Về lĩnh vực văn hóa. Theo Hồ Chí Minh, tôn giáo là một bộ phận của văn hóa, Người cho rằng:
        Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [Lê Bá Trình, 15].
        Những giá trị văn hóa tốt đẹp của tôn giáo (văn hóa tinh thần như kinh sách, nghệ thuật, lễ nghi, các giá trị nhân bản trong giáo lý, giáo luật... của tôn giáo; văn hóa vật chất như cơ sở thờ tự, tượng đài, kiến trúc... của tôn giáo) góp phần vào cùng văn hóa của các dân tộc và của các thời đại tạo nên một nền văn hóa chung của toàn nhân loại với nhiều bản sắc riêng, phong phú, đa dạng, làm cho cuộc sống con người được thăng hoa cùng với sự phấn đấu về một cuộc sống vật chất no đủ, làm chủ tự nhiên.
         Vì có sự tương đồng đó, nên trong hoạt động thực tiễn và trong công tác cách mạng, Hồ Chí Minh thường đề cao việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của tôn giáo cùng với xây dựng đời sống văn hóa mới (văn hóa cách mạng). Năm 1927, khi ở Trung Quốc, quê hương Khổng Tử, Hồ Chí Minh đã phê phán Chính phủ Trung hoa Dân quốc xóa bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử. Người nói: "Với việc xóa bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ và trái với tinh thần dân chủ. Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin" [Hồ Chí Minh, 16]. Ở đây, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận và đánh giá đúng mức sự đóng góp của Khổng Tử (Nho giáo) về mặt giá trị tinh thần, tức là mặt văn hóa, đạo đức cho xã hội mới.
          Ngay khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời, với trách nhiệm của chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh số 05, ngày 23-11-1945 về "ấn định nhiệm vụ Đông phương Bác cổ học viện" trong đó nêu rõ:
         ... Điều 1: Đông phương Bác cổ học viện có nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam... Điều 4: Cấm phá hủy những đình chùa, đền, miếu, hoặc những nơi thờ tự khác: cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn.
           Cấm phá hủy những bi kí, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà không bảo tồn. [Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, 17]
            Hồ Chí Minh rất coi trọng các giá trị văn hóa vật chất cũng như các giá trị văn hóa tinh thần của các tôn giáo, vì đó là những giá trị văn hóa đóng góp vào sự hình thành bản sắc văn hóa của dân tộc, và cũng là yếu tố để góp phần xây dựng nên một nền văn hóa mới. Bên cạnh đó, Người cũng phê phán những hiện tượng phi văn hóa có trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo như: hủ tục nặng nề, bói toán, đồng cốt, hoạt động mê tín dị đoan và tin tưởng vào những điều nhảm nhí khác.
          Thứ ba, theo Hồ Chí Minh, đối với Đảng và Nhà nước cũng như quần chúng nhân dân cần phải chấp nhận và tôn trọng những điểm khác biệt giữa tôn giáo với chủ nghĩa xã hội.
           Trung thành với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định có sự khác nhau giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội. Đó là sự khác nhau về thế giới quan (duy vật - duy tâm), về phương thức hành động để đạt được mục tiêu, khát vọng giải phóng con người. Người thẳng thắn nói rõ: "Chủ nghĩa duy linh và chủ nghĩa duy vật là khác nhau, rõ ràng là thế. Nhưng không vì thế mà chà đạp lên quyền tự do của nhau". [Trần Tam Tỉnh, 18] 
            Chủ nghĩa duy linh - Tôn giáo, cho rằng một xã hội tốt đẹp - "Thiên đàng", "Niết bàn" là ở "Thế giới bên kia", ở "Kiếp sau" khi mỗi con người đã chết đi về phần thể xác và có đủ các điều kiện để thoát khỏi những nỗi khổ ở chốn trần gian, có được cuộc sống an lành, hạnh phúc ở "thế giới bên kia" nhờ "ân sủng" từ những lực lượng siêu nhiên, do lực lượng siêu nhiên quyết định. Trong khi đó, chủ nghĩa xã hội cho rằng "xã hội tốt đẹp" là một xã hội hiện thực mà chính con người đang sống, tồn tại; chính con người tạo ra xã hội và tồn tại ở đó. Phương thức hành động của chủ nghĩa xã hội để có một xã hội tốt đẹp là chính con người đấu tranh với thực tiễn để cải tạo xã hội cũ, xây dựng một xã hội mới không có bóc lột, áp bức, bất công, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về vật chất, tinh thần và sự phát triển cao hơn của con người.
           Tuy nhiên, theo Hồ Chí Minh, sự khác nhau về nhận thức, phương thức hành động đó không phải là sự mâu thuẫn đối kháng bởi vì người có tín ngưỡng, tôn giáo và người đi theo chủ nghĩa xã hội đều cùng phấn đấu cho một mục tiêu, khát vọng chung là giải thoát con người ra khỏi sự khổ ải, làm cho con người có cuộc sống tốt đẹp hơn. Do vậy, không phải vì có sự khác nhau đó mà "chà đạp lên quyền tự do của nhau".
              Hồ Chí Minh luôn giáo dục cán bộ, chiến sĩ phải thực hiện sự tôn trọng đối với mọi tầng lớp nhân dân dù họ có chính kiến, có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Mặt khác, theo Hồ Chí Minh đề cao sự tương đồng, tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội là giải pháp để đồng bào có đạo xóa dần mặc cảm, định kiến, hăng hái đi theo con đường chung của dân tộc, của chủ nghĩa xã hội và làm cho khối đoàn kết dân tộc ngày càng được củng cố, ngày càng vững mạnh.
             Quan điểm chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh không phải chỉ được thừa nhận trong cán bộ và nhân dân ta mà ngay cả những người đối lập với cách mạng Việt Nam cũng đã thừa nhận. Trong cuốn Đối diện với Hồ Chí Minh (Face à Ho Chi Minh), một quan chức cao cấp của chính phủ Pháp, nhân vật đối thoại chủ yếu với Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kì 1945 - 1946 đã nhận xét như sau: "Về phần tôi, phải nói rằng, chưa bao giờ tôi có cớ để nhận thấy nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu với bất kỳ một tôn giáo nào..." [Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1 - 1999]
              Từ quan điểm chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội như trên, Hồ Chí Minh sẵn sàng hợp tác với người có tôn giáo, thậm chí sẵn sàng kết nạp cả những người có đạo vào Đảng, miễn rằng những người ấy tán đồng mục tiêu chung của dân tộc và tôn trọng những quy định của Đảng, Người khẳng định: "Người tôn giáo nào cũng vào được, miễn là trung thành hăng hái làm nhiệm vụ, giữ đúng kỉ luật của Đảng. Nước ta kinh tế lạc hậu, kỹ thuật kém, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật nhưng trong điều kiện hiện tại, người theo đạo vẫn vào Đảng được" [Hồ Chí Minh, 19]. Quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm của Lênin trong việc kết nạp người có đạo vào Đảng Công nhân. Trong bài "Về thái độ của Đảng Công nhân đối với tôn giáo" viết năm 1909, V.I. Lênin nêu: Chúng ta không những phải sẵn sàng kết nạp, mà còn cố gắng để thu hút vào Đảng Dân chủ - Xã hội tất cả những công nhân nào còn tin ở Thượng đế; chúng ta nhất định phản đối bất cứ một sự xúc phạm nhỏ nào đến tín ngưỡng tôn giáo của họ. Theo Lênin, thu hút họ vào Đảng để giáo dục họ theo tinh thần Cương lĩnh của Đảng, chứ không phải để họ tích cực chống lại Cương lĩnh của Đảng. Đó cũng là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh thực tế Việt Nam.
             Lấy lợi ích của dân tộc, bảo vệ độc lập của Tổ quốc làm mục tiêu chung để hóa giải những điểm khác biệt giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội. Nét độc đáo trong việc hóa giải những điều khác biệt giữa tôn giáo với chủ nghĩa xã hội mà Hồ Chí Minh đã thực hiện thành công là gắn nhiệm vụ của cách mạng với lí tưởng của những người sáng lập ra tôn giáo nhằm động viên tín đồ và chức sắc các tôn giáo tham gia vào cuộc đấu tranh cách mạng.
           Thứ tư, từ sự phê phán mạnh mẽ việc lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, chống phá sự nhiệp cách mạng của nhân dân, Hồ Chí Minh cho rằng vấn đề đoàn kết tôn giáo kiên quyết đấu tranh với luận điệu chia rẽ tôn giáo của kẻ thù.
            Hồ Chí Minh luôn luôn kêu gọi chính quyền, nhân dân, chức sắc và tín đồ các tôn giáo thực hiện đoàn kết tôn giáo, đồng thời lên án mạnh mẽ những âm mưu, hành động lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, làm phương hại đến lợi ích quốc gia.
          Cùng với những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp góp phần vào đời sống tinh thần của con người, bản thân tôn giáo có những mặt tiêu cực của nó, trong đó mặt tiêu cực nhất là khi tôn giáo bị các âm mưu chính trị, phản động lợi dụng. Cụ thể, ở Việt Nam, thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ đã lợi dụng tôn giáo như một công vụ để tiến hành âm mưu xâm lược nước ta và gây chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc. Lịch sử của dân tộc còn ghi rõ sự cấu kết của chủ nghĩa thực dân và Giáo hội Công giáo trong quá trình xâm lược Việt Nam, áp bức và bóc lột nhân dân Việt Nam. Ngay từ Bản án chế độ thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã lên án mạnh mẽ thực dân Pháp cấu kết với các giáo sĩ, chức sắc Công giáo để xâm lược Việt Nam. Người tố cáo giáo sĩ Pháp làm gián điệp, trực tiếp bắn giết đồng bào ta cả giáo và lương. Người vạch rõ thực dân Pháp là bọn đốt nhà thờ, hiếp bà phước, giết tín đồ chức sắc, giết dân ngoại đạo... Chúng là bọn ác ma, bọn phản Chúa, giết Chúa, Người kết luận: "Thực dân là lũ Sa tăng. Phản Chúa, phá đạo là thằng Thực dân" [Báo Nhân dân, ngày 11 đến 15-2-1953].
            Tại nhiều diễn đàn quốc tế, Hồ Chí Minh đã lớn tiếng tố cáo tội ác của chúng. Người nói: "Trong hơn 80 năm thống trị nước chúng tôi, bọn thực dân dùng mọi thủ đoạn để chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo, chúng áp dụng chính sách cổ điển là "chia để trị" [Hồ Chí Minh, 20]. Đối với những cá nhân hay tổ chức, kể cả tổ chức giáo hội của tôn giáo lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trị phản động, Hồ Chí Minh cho rằng những kẻ này không chỉ là "Việt gian mà còn là giáo gian", cần phải nghiêm trị.
            Tóm lại, có thể thấy rằng, những quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo thật sâu sắc, được hình thành và phát triển trên cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo vào điều kiện, hoàn cảnh đặc thù của dân tộc Việt Nam cũng như nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, quá trình vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta qua các giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đã đạt được những thành tựu rất cơ bản, đồng thời vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém. Do đó, việc nhận thức và nắm vững quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo và vận dụng những quan điểm tôn giáo của Hồ Chí Minh một cách nhuần nhuyễn, bằng các giải pháp đồng bộ trong quá trình hoạch định và thực hiện các chủ trương, chính sách, chương trình hành động đối với tôn giáo và công tác tôn giáo là yêu cầu bức thiết và nhân tố quan trọng góp phần vào thành công của nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta hiện nay.


Hiển thị phần trích dẫn và tài liệu tham khảo
         

1. Hồ Chí Minh (1983), Toàn tập, Tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr. 152.
2. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 9.
3. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 184.                       
4. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 190.                       
5. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 50.                        
6. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 121.
7. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 197.                       
8. Hồ Chí Minh (1990), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 332.                       
9. Trần Tam Tỉnh (1988), Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ TP. Hồ Chí Minh, tr.76.                   
10. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (1998), Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng, Hà Nội, tr.13.    
11. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.302.                       
12. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (1998), Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng, Hà Nội, tr.226.  
13. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (1998), Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng, Hà Nội, tr.226.  
14. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 272.
15. Lê Bá Trình (2005), Vấn đề tôn giáo trong Lịch sử Triết học và sự vận dụng để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ở Thừa Thiên Huế, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Đại học khoa học Huế, tr.131.  
16. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, tr452.
17. Viện Nghiên cứu Tôn giáo (1998), Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
18. Trần Tam Tỉnh (1988), Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ TP. Hồ Chí Minh, tr.72.       
19. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 215.
20. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.156.
 

 

Tác giả bài viết: Thăng Long Library

Chú ý: Việc đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác mà không ghi rõ nguồn http://nukeviet.vn là vi phạm bản quyền

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập5
  • Hôm nay72
  • Tháng hiện tại509
  • Tổng lượt truy cập44,604
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây