Tiếp cận cấu trúc và tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu xã hội học tôn giáo

Thứ ba - 25/05/2021 17:39
[TƯ LIỆU - THĂNG LONG LIBRARY] Thư viện Thăng Long trích đăng giới thiệu một phần bài viết của TS. Nguyễn Đức Truyến. Dẫn nguồn: Bài viết đã được in trong cuốn sách: "Đào tạo Tôn giáo học ở Việt Nam quá trình hình thành và phát triển" của Bộ môn Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, do PGS.TS Trần Thị Kim Oanh chủ biên, Nxb Tôn giáo, 2017, tr. 245-260.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa


 
     1. Sự ưu tiên cách tiếp cận định lượng do tuyệt đối hóa vai trò của cấu trúc luận trong nghiên cứu xã hội học tôn giáo

     
Trong các tài liệu về lý thuyết xã hội học nói chung, xã hội học tôn giáo nói riêng hiện nay, vẫn tồn tại một quan niệm khá phổ biến cho rằng có hai cách tiếp cận độc lập và đối lập một cách hệ thống với nhau là cách tiếp cận định lượng và cách tiếp cận định tính. Tuy nhiên, trên thực tế, cho mãi tới gần đây, các nghiên cứu xã hội học vẫn thiên về cách tiếp cận định lượng vì những ưu điểm rõ rệt của nó như tính đại diện của quy mô nghiên cứu, tính khách quan của các chỉ báo nghiên cứu và tính phổ quát của các kết quả nghiên cứu dựa trên các khuôn khổ lý thuyết đã được xây dựng từ trước và được kiểm định nhiều lần trong không gian và thời gian. Do khả năng đo đếm của cách tiếp cận định lượng, người ta hy vọng xác định được các xu hướng xã hội khác nhau của các nhóm, tầng lớp hay giai cấp xã hội cần quan tâm theo quan điểm quyết định luận của cấu trúc xã hội được xem là tinh thần cốt lõi của phương pháp xã hội học.
     Trong khi đó, cách tiếp cận định tính, chủ yếu gắn với các nghiên cứu dân tộc học, cho dù đã thể hiện những ưu thế không thể tranh cãi trong việc tiếp cận trực tiếp các đối tượng nghiên cứu khi cho phép chuyển đổi các cử chỉ và lời nói của các cá nhân thành các đơn vị ý nghĩa cơ bản hay các sự kiện cần phân tích để xây dựng các phạm trù bản địa trước khi đi tới các khái niệm có thể diễn giải toàn bộ thực tiễn nghiên cứu [Florence Weber, 1]. Cách tiếp cận vừa mang tính thực nghiệm vừa mang tính lý thuyết này cho phép kiểm nghiệm liên tục và tại chỗ các giả thuyết ban đầu hay điều chỉnh chúng theo mục tiêu nghiên cứu đã xác định. Từ những ưu điểm này mà cách tiếp cận định tính dân tộc học này được sử dụng trong xã hội học tôn giáo như những nghiên cứu thăm dò hay định hướng trước khi triển khai các nghiên cứu định lượng có quy mô lớn bằng bảng hỏi. Mặt khác, khi cần làm sáng tỏ các tương quan định lượng đa chiều phức tạp, các nghiên cứu định tính sẽ cho phép xác định nội dung hiện thực của chúng trên thực địa chứ không phải là những diễn giải phỏng đoán hay võ đoán từ các dữ kiện thống kê. Một ví dụ có sức thuyết phục cho trường hợp này là khi Durkheim dựa trên số liệu thống kê cuối thế kỷ XIX về tự tử ở Pháp đã cho rằng nguyên nhân của tự tử chủ yếu là do hai cơ chế tích hợp xã hội và kiểm soát xã hội, vì thế các yếu tố như tôn giáo, gia đình và một số hoàn cảnh chính trị xã hội có ảnh hưởng đến tình trạng tự tử. Khi phân tích lại các dữ kiện này và dựa trên các quan sát thực tiễn, vào năm 1930, Maurice Halbwachs đã phát hiện ra rằng tôn giáo không ảnh hưởng đến tình trạng tự tử mà chủ yếu do môi trường xã hội và sự thay đổi lối sống [2]  
     Hiểu theo cách này, chúng ta thấy hai cách tiếp cận này không đối lập hay độc lập mà còn cần thiết để bổ xung cho nhau trong thực tiễn nghiên cứu xã hội học tôn giáo. Đó là sự cần thiết kết hợp giữa hai cấp độ nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm, giữa hướng tiếp cận khách quan phổ quát và hướng tiếp cận chủ quan đặc thù mà các chủ thể xã hội hay con người luôn giả định.
     Việc các nghiên cứu xã hội học nói chung, xã hội học tôn giáo nói riêng cho đến nay vẫn chủ yếu sử dụng cách tiếp cận định lượng hơn là định tính mặc dù bỏ qua những khả năng xác nhận nội dung hiện thực của các kết quả nghiên cứu định lượng, có thể được lý giải từ cách tiếp cận các sự kiện văn hóa hay hành vi có chủ định của con người bị xem là thứ yếu trong mô hình tư duy khoa học thực chứng vốn chi phối các thực tiễn nghiên cứu xã hội học từ khi nó xuất hiện đến nay.
      Trong một nghiên cứu về "Các nhiệm vụ của xã hội học văn hóa", Friedrich H. Tenbruck [3] cho rằng khi xác định đối tượng nghiên cứu của xã hội học, có một quan điểm phổ biến là "xã hội có thể được xác định bởi tổ chức bên ngoài của nó, bởi các phân chia được thể hiện ở mọi nơi trong đời sống xã hội và ngày nay chúng được xác định về đại thể là cấu trúc của nó" [4] Điều này ám chỉ rằng, chỉ những gì là hữu hình hay có sự tồn tại khách quan của đời sống xã hội mới có thể trở thành đối tượng nghiên cứu, còn ý niệm về văn hóa, gắn với các biểu tượng, ý niệm, chuẩn mực hay giá trị đều là những cái chỉ có sự tồn tại chủ quan, vô hình nên bị gạt ra khỏi sự quan tâm của xã hội học. Ý niệm về xã hội này, theo ông chủ yếu là sản phẩm của những hoàn cảnh ngẫu nhiên khác nhau hơn là dựa trên một quyết định có tính nguyên tắc hoặc trên những bằng chứng thực nghiệm. Tuy nhiên, trong thực tế, điều này dẫn đến kết quả là xã hội được đồng nhất với cấu trúc của nó và xã hội học, bị quy giản vào sự phân tích cái cấu trúc này. Quan niệm này về xã hội không dành chỗ cho văn hóa như là dữ kiện độc lập; xã hội học về văn hóa, do đó, bị quy giản ở mức tối thiểu hay chỉ được xem như là đối tượng của một môn xã hội học chuyên biệt (xã hội học văn hóa) mà không phải là chính đối tượng của môn xã hội học chung.

     2. Cách tiếp cận văn hóa và mối quan hệ giữa cấu trúc xã hội và văn hóa trong nghiên cứu xã hội học tôn giáo

     
Trái với một quan niệm như vậy, Tenbruck cho rằng thực tại xã hội luôn bao gồm cả cấu trúc và văn hóa và chúng luôn tạo thành một sự thống nhất không thể phân chia và chỉ bị tách rời trong phân tích. Ông cho rằng "Mọi văn hóa đều được ghi dấu trong những cấu trúc, mọi cấu trúc đều được lấp đầy bởi văn hóa [5]. Vì thế, nếu xã hội chỉ được nhận thức thông qua cấu trúc của riêng nó và chỉ được giải thích từ những cấu trúc này là không đủ tính tự trị, nó không được xác định và không thể xác định mọi thứ còn lại từ chính bản thân nó, và do đó, nói đúng ra nó không thể trở thành một chủ đề khoa học. 
      Trở lại với E.Durkheime, người phát triển quan điểm thực chứng luận của A.Compte và là người sáng lập môn xã hội học như một bộ môn khoa học độc lập, chúng ta thấy rằng ông không chỉ khách thể hóa đối tượng nghiên cứu của xã hội học theo quan điểm thực chứng luận khi coi "tính xã hội" (le social) như là tinh thần hay bản chất của các sự kiện xã hội (le fait social) vì các biểu trưng tập thể (ý thức tập thể) là tinh thần tạo nên các cấu trúc hay tổ chức xã hội, cũng như Weber coi "đạo đức Tin Lành" như "tinh thần của chủ nghĩa tư bản". Như thế, ông vừa khách thể hóa các sự kiện xã hội như những hiện tượng hữu tình có thể quan sát và đo đếm một cách khách quan với tư cách các sự vật mang tính vật chất, vừa kết nối chúng với các sự kiện tinh thần hay văn hóa (biểu trưng hay ý thức tập thể) hay các sự kiện vô hình theo quan điểm hiện tượng luận coi cái không hiện hữu là cơ sở của cái hiện hữu. Vì thế theo ông hiện thực xã hội là sự thống nhất giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể hay giữa cấu trúc xã hội và văn hóa.
      Quan niệm hiện tượng học về hiện hữu hay tồn tại cho rằng mọi hiện hữu hay tồn tại xã hội là những sự vật hữu tình chỉ là cái thể hiện của một cái khác là bản chất hay hữu thể của chúng, là văn hóa. Tuy nhiên, người ta không thể xác định theo cách tiên nghiệm và một lần cho tất cả những gì thuộc về văn hóa và cấu trúc trong các hiện tượng xã hội, vì trong hiện thực xã hội luôn có sự thay đổi vị thế giữa cái biểu hiện (hình thức hay sự kiện) và cái được biểu hiện (nội dung hay bản chất). Chẳng hạn, trong một xã hội có sự đồng nhất về cấu trúc gia đình, người ta sẽ chỉ thấy những khác biệt về quy mô của nó như gia đình hạt nhân (một thế hệ) hay đại gia đình (nhiều thế hệ), gia đình khiếm khuyết (thiếu một số thành viên) hay gia đình đầy đủ (có đủ vợ chồng, cha mẹ, con cái), khi đó, các thực trạng gia đình được xem xét chỉ mang tính cấu trúc thuần túy (cái biểu hiện). Nhưng trong một xã hội có nhiều kiểu cấu trúc gia đình khác nhau (gia đình mẫu hệ, gia đình phụ hệ) dẫn tới những kiểu tổ chức gia đình, các vai trò và quan hệ gia đình khác nhau, sự khác biệt này không chỉ mang tính cấu trúc giản đơn mà còn mang ý nghĩa văn hóa vì chúng gắn với các nguyên lý (vô hình) hay các mô hình văn hóa khác nhau (cái được biểu hiện) chi phối các tổ chức gia đình và xã hội.
      Sự phân biệt này cần phải được xem xét trên một phương thức thực nghiệm, với từng trường hợp cụ thể. Một môn xã hội học về cơ bản chỉ nghiên cứu các sự kiện cấu trúc và tìm cách diễn giải tất cả những sự kiện khác từ những sự kiện này có nguy cơ biến thành một thứ lý thuyết tách rời hiện thực. Cuộc khủng hoảng của xã hội học, đã làm tốn rất nhiều giấy mực cũng là biểu hiện của một sự thất vọng trước một sự thiếu vắng nội dung hiện thực trong các lý thuyết; Hiện tại người ta luôn khao khát thoát ra khỏi những phân tích thuần túy cấu trúc để đi tìm các bằng chứng thực nghiệm cho chính các kết quả của nghiên cứu cấu trúc. Đó là sự hệ thống hóa các hành vi xã hội của các cá nhân thuộc các nhóm xã hội khác nhau trong một cấu trúc xã hội nhất định hay vị thế cấu trúc của các nhóm tác động thế nào đến các hệ thống hành vi xã hội của họ (lý thuyết về "trường hoạt động" của P. Bourdieu).
       Trong bối cảnh này, nhiệm vụ chủ yếu của xã hội học văn hóa là đặt lên hàng đầu cái thực tế bị che khuất bởi thói quen mà người ta đã mắc phải là chỉ tập trung vào các cấu trúc; để giải phóng xã hội học khỏi quan niệm thu hẹp và hạn chế của nó về xã hội.
      Theo Tenbruck, xã hội học văn hóa trước tiên không được coi văn hóa như một lĩnh vực đặc thù và riêng biệt cùng tồn tại với xã hội là đối tượng nghiên cứu của nó. Những phân biệt giữa xã hội và văn hóa nói đúng ra là cần thiết trong một thực tại mà cả hai luôn được lồng ghép vào nhau, nhưng không thể cô lập "cái xã hội" như một lĩnh vực riêng biệt và tự trị. Nó phải chỉ ra một cách rõ ràng rằng một lý thuyết về xã hội phải đồng thời sử lý các sự kiện xã hội và các sự kiện văn hóa. Xã hội học về văn hóa không thể là một lĩnh vực chuyên biệt; nó phải được tích hợp vào môn xã hội học chung những sự kiện mà nó coi là đối tượng và những quan điểm được xem là của nó. Hơn nữa, nó cũng không thể chỉ là một môn xã hội học bộ phận, đem những lược đồ hiện có của xã hội học vào trong một lĩnh vực đặc thù, trong trường hợp này là lĩnh vực văn hóa mà những lược đồ ban đầu ấy không hề bị ảnh hưởng bởi các thao tác này. Xã hội học có thể xử lý không giới hạn các sự kiện văn hóa, nên không cần thiết phải nói về một môn xã hội học văn hóa chuyên biệt nếu nó chưa được hình thành.
       Theo ông, ngày nay cái cần phải được đặt lên hàng đầu không phải là những quyết định xã hội của văn hóa - dù người ta không bao giờ được sao lãng - mà là các quyết định và ý nghĩa văn hóa của các quá trình xã hội đã định hướng hành vi xã hội của con người ra sao. Xã hội học về văn hóa không thể chỉ xuất phát từ tính ưu việt về nguyên tắc của văn hóa, nhưng nó cũng không thể dừng lại ở ý tưởng cho rằng tự thân cái "xã hội" tạo thành hiện thực theo đúng nghĩa của nó. Ở đây, chúng ta bắt gặp ý tưởng của M. Weber về các quyết định văn hóa của các quá trình xã hội khi ông định nghĩa hành vi xã hội dựa trên các ý nghĩa xã hội (quyết định văn hóa) của hành vi. Ông loại trừ các hành vi sinh học như ăn khi đói, uống khi khát, v.v hay các hành vi không có chủ định như tai nạn giao thông khỏi phạm trù các hành vi xã hội được coi là đối tượng nghiên cứu xã hội học của ông. Đây cũng chính là lý do ông chọn hành vi xã hội được quyết định bởi ý nghĩa văn hóa hay cách tiếp cận văn hóa thay vì cấu trúc xã hội hay cách tiếp cận cấu trúc làm đối tượng của môn xã hội học tìm hiểu của ông (sociologie compréhensive), một cách tiếp cận nhằm đi tới sự hiểu biết trực tiếp dựa trên trực giác [6] về ý nghĩa của các hành vi của chủ thể hành động trong những điều kiện tồn tại cụ thể của nó trước khi giải thích nó theo lô gích phổ quát của cách tiếp cận giải thích trong các khoa học tự nhiên.
       Tuy nhiên, khác với cách tiếp cận triết học, có thể coi bản chất của các sự kiện như là đối tượng nghiên cứu, cách tiếp cận xã hội học đòi hỏi các đối tượng nghiên cứu của nó phải được cụ thể hóa trong các sự kiện xã hội cụ thể và sinh động, tức là có thể tri giác được, Tenbruck cho rằng: "Nó (văn hóa) không thể được xem như một bản chất của sự tồn tại mà như một hiện tượng sinh động" [7]. Bởi vì, ý niệm văn hóa không chỉ thể hiện như là những đặc điểm chung của các hiện tượng văn hóa mà còn thể hiện trong tính đa dạng của các hiện tượng này.
       Để văn hóa trở thành đối tượng của môn xã hội học chung chứ không chỉ của một môn xã hội học chuyên biệt (xã hội học văn hóa), văn hóa cần phải thể hiện mối liên hệ tổng thể giữa các hiện tượng văn hóa. Mối liên hệ chung đó chính là nguồn gốc của các hiện tượng văn hóa: "Trong tính đa dạng của chúng, các hiện tượng văn hóa có chung một nguồn gốc. Tất cả đều là những biểu hiện của hành động đặc thù làm cho con người trở thành một hữu thể có văn hóa, vừa không hoàn toàn bị chi phối bởi các thiên hướng tự nhiên của nó vừa không bị ràng buộc giản đơn bởi trí thông minh của nó trong sự thích nghi tối ưu với những dữ kiện bên ngoài" [8]. Dưới hình thức chung của nó, ý tưởng này được hình thành từ Herder cho tới Cassirer, Plessner và Gehlen, được áp đặt ở khắp nơi ngay cả khi nó đã chấp nhận một số màu sắc quốc gia nhất định.
       Trong triết học hiện tượng luận, đây chính là ý tưởng về nhân tính và về sự hình thành đời sống tinh thần của con người khi thể hiện sự phủ định hay thái độ độc lập của nó trước những điều kiện tồn tại mang tính động vật hay tự nhiên để khẳng định sự tồn tại mang tính người của nó. Sự hình thành ý thức về bản thân mình của con người ở đây chính là ý niệm về con người với tư cách là hữu thể văn hóa. 
      Tenbruck đi đến một định nghĩa về thuộc tính văn hóa: "Ngày nay, thuộc tính văn hóa được xem như là toàn bộ hành vi, kể cả những hành động chỉ phục tùng một mục tiêu và chỉ có tính bề ngoài, cũng như được ghi nhận trong thế giới của những ý nghĩa biểu trưng, nơi con người sống và hành động" [9]. Định nghĩa này cho chúng ta thấy văn hóa luôn gắn với hành vi, vì thuộc tính văn hóa chính là những hành vi mang "ý nghĩa biểu trưng" của con người, một định nghĩa hoàn toàn đồng nhất với định nghĩa về hành vi xã hội của M.Weber và nó chỉ cụ thể hóa cái ý nghĩa của hành vi xã hội trên bình diện biểu trưng mà thôi.
     Với tư cách là hữu thể văn hóa, con người cũng là một hữu thể có năng lực, có mong muốn và nhu cầu văn hóa. Sự hình thành trật tự đời sống nội tâm của nó, với nó là một vấn đề thường ít có áp lực nhưng không kém phần cơ bản so với sự xác lập những điều kiện tồn tại bên ngoài của nó. Trật tự của hành vi bên trong này một khi đã hình thành cũng chi phối trật tự của hành vi bên ngoài của nó, và cái hành vi bên trong này đòi hỏi một trật tự và sự khách thể hóa những ý nghĩa của nó. Vì từ khả năng tự ràng buộc phải tạo ra một hiện thực riêng biệt từ những ý tưởng và giá trị này, cho dù nó vẫn phải phục tùng những điều kiện bên ngoài, con người luôn là một bí mật với chính bản thân nó. Thực vậy, trong tất cả các xã hội, con người không chỉ là kẻ sáng tạo và là sản phẩm của những định chế và những quy tắc xã hội vốn là cơ sở của các quan hệ và cấu trúc xã hội mà còn là kẻ sáng tạo các ý nghĩa trí tuệ và đạo đức mà nhờ chúng và vì chúng, con người có thói quen làm đảo lộn và thay đổi những định chế, những quy tắc xã hội và các cấu trúc xã hội ở tất cả các "giai đoạn" phát triển xã hội và văn hóa.
      Tuy nhiên, những năng lực văn hóa của con người chỉ có thể nảy sinh trong chính đời sống xã hội của nó. Điều này đưa Tenbruck đến ý niệm thứ hai, ý niệm xã hội về văn hóa. Thực vậy văn hóa chỉ có thể được hiểu trong chừng mức con người sống chung với nhau. Xã hội là nơi năng lực văn hóa của con người được thực hiện; nơi nhu cầu văn hóa của nó được thỏa mãn, mà không có nó xã hội sẽ không thể tồn tại. Trong chừng mực con người là một hữu thể văn hóa, các liên hệ xã hội cũng luôn có thể trở thành văn hóa, tức là chúng cho phép phát triển các ý nghĩa cho hành vi cá nhân và xã hội vốn nâng đỡ nó. Tính khu biệt của chúng có thể được nhận thấy trong tất cả các lĩnh vực như kinh tế, xã hội, phong tục, tôn giáo và pháp luật, được thể hiện trong những ý tưởng và những giá trị của một xã hội mang đặc trưng của những tri thức cổ xưa nhất mà các dân tộc có về nhau và về bản thân họ. Các khoa học liên quan đến xã hội đã tìm nhiều cách khác nhau để mô tả cái đặc trưng văn hóa của xã hội, nhưng chúng luôn không nhất trí với nhau về điểm này: mỗi xã hội đều có một văn hóa riêng của mình, được truyền tải thông qua thời gian. Khái niệm văn hóa ở đây phản ánh ở các mô hình đặc trưng của xã hội trong tính tổng thể của nó: đó là văn hóa tổng thể trong tính hiển nhiên của sự truyền bá xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác. 
       Các cách tiếp cận xã hội học về các mô hình này đành rằng không thể chỉ dựa trên việc phục hồi các nội dung tư tưởng; chúng còn được thể hiện "trong hành động", tức là trong những biểu hiện văn hóa và nghi lễ, trong những quy chiếu xã hội hay các cấu trúc xã hội của chúng, khi bàn về vấn đề của những yếu tố đa dạng kể cả mâu thuẫn của chúng và đồng thời tính đến khoảng cách không thể vượt qua ngăn cách chúng với thực tế. Mặt khác, hành vi không thể được hiểu trong tính trực tiếp xã hội của nó và không cần nhờ cậy đến các mô hình văn hóa, là những cái nâng đỡ nó.
       Tuy nhiên, từ cách tiếp cận theo chủ nghĩa duy văn hóa của Tenbruck, chúng ta không khỏi có cảm giác lúng túng trước đòi hỏi phải khu biệt hay định vị các sự kiện xã hội và sự kiện văn hóa vốn luôn pha trộn và tương tác với nhau trong hiện thực xã hội vì chính ông cũng không phủ nhận vai trò của các sự kiện cấu trúc nhưng vẫn không dành cho chúng một vị thế rõ ràng trong nghiên cứu xã hội học. Hơn nữa theo quan điểm nhận thức luận, trật tự nhận thức luôn dựa trên nguyên tắc tiếp cận từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất gần nhất đến các bản chất sâu xa nhất nên chúng ta không thể trực tiếp đi vào các sự kiện văn hóa mà không thông qua các sự kiện cấu trúc được xem là các biểu hiện của chúng. Vì thế sự phê phán những bất cập của chủ nghĩa duy cấu trúc không phải là phủ nhận nó mà là xác định một mô hình tư duy khoa học mới (nouveau pagadigme) thừa nhận và kết hợp cả hai cách tiếp cận cấu trúc và văn hóa này đồng thời vượt qua sự đối lập giữa chủ nghĩa duy cấu trúc (structuralisme) và chủ nghĩa duy văn hóa (culturalisme) trong các nghiên cứu xã hội học. Đó là sự kết hợp giữa các cách tiếp cận khách quan và chủ quan, từ bên ngoài và từ bên trong con người, giữa cấu trúc xã hội và văn hóa, giữa tính phổ quát và tính đặc thù của các sự kiện xã hội, giữa tiếp cận vật lý học xã hội và tiếp cận hiện tượng học xã hội hay nói một cách giản lược là giữa tiếp cận định lượng (thiên về mô tả và chứng minh) và tiếp cận định tính (thiên về phân tích, khám phá và diễn giải).
....
       


           
Tài liệu tham khảo

[1]. Florence Weber, Le ttravail-à-côté, Etude d'ehnographie ouvrière, Paris, INRA, EHESS, 1989, tr.9. 
[2]. https://fr.wikipedia.org/wiki/Le_Suicide.
[3] [4] [5] [7] [8] [9] Friedrich H. Tenbruck, "Les tâches de la sociologie de la culture", Trivium [En ligne], 12 I 2012, mis en ligne le 10 décembre 2012, consulté le 22 avril 2015. URL: http://trivium.revues.org/4386 In: kölner Zeitschrift für Soziologie und Sozialpsychologie, 31, 1979, p. 399-421. p.3
[6] Trần Đức Thảo, Logique du Present vivant, Paris, 1993. Tác phẩm cuối cùng trước khi mất, đề tặng giáo sư P.Bourdieu.
 

Tác giả bài viết: Thăng Long Library

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây